ADR LÀ GÌ?

Chia sẻ:
Bernard Nguyên Đăng
Arbitrator-Mediator-Lecturer

Từ khi con người hiện hữu trên quả đất, đã mang theo yêu thương lẫn xung đột, đã mang theo ganh tị, hiềm thù và giết chóc; không phải chỉ riêng đối với đối thủ mà con người cho là địch thù, nhưng ngay chính người anh em trong gia đình, rụôt thịt, cùng chung một giòng máu cha, cùng bầu sữa mẹ [sách Sáng Thế Ký, 4:8.]

Người Vịêt, hơn ai hết, ắt hẵn nhận thức và cảm nghịêm sự tranh chấp, xung đột qua chứng kiến và kinh nghịêm của một cụôc chinh chiến huynh đệ tương tàn. Xung khắc dường như gắn liền với hơi thở, với cái nhìn và với cả sự rung cảm trong con tim: yêu thương, ghen tương, hục hặc, hận thù, rồi lắm khi trịêt hạ nhau không những bằng ngòi bút, lời nói, bằng thái độ, nhưng lắm khi tan tóc bằng đã thương và giết chóc.

Liên tục mấy trăm năm, lụât lệ của Mỹ được sọan thảo, thành lụât, bổ sung, cập nhật, thi hành, nhưng người vi phạm lụât pháp càng ngày càng nhiều, nhà tù càng ngày càng không có chỗ chứa, người bị bắt bớ đưa vào khám như hội chợ. Ít ai có một chút quan tâm, một phút suy tư tại sao lụât pháp, với hệ thống truyền thông có sẵn,  không cảnh giác được sự ý thức của con người và tù đày; và ngay đến án tử hình, hành quyết, không làm chùn bước kẻ gian tà.

Nói chung, lụât pháp và pháp đình không phải là nơi tuỵêt nhiên để giải quyết những thưa kịên, tranh chấp, xung đột, hiểu lầm, phật ý của nhau. Bà chánh án Tối Cao Pháp Vịên Hoa kỳ,    
Sandra Day O’Connor, đã tuyên bố: “Pháp đình của nước nầy không phải nơi bắt đầu của vịêc giải quyết những tranh chấp. Pháp đình chỉ là nơi cuối cùng-sau khi đã sử dụng những phương thế giải quyết khác-The courts of this country should not be the place where the resolution of disputes begins. They should be the places where disputes end-after alternative methods of resolving disputes have been considered and tried.”   

Chánh án O’Connor muốn nhắc đến những “phương thế khác,” phương thế gì?

Người Mỹ gọi Phương Thế đó là ALTERNATIVE DISPUTE RESOLUTION, trong hệ thống lụât pháp của Hoa Kỳ thường được gọi tắt là ADR.

Trong lãnh vực nầy, hầu hết các nước Tây phương đều có hệ thống lụât pháp tương đương với Hoa kỳ, nhưng có thể gọi bằng những danh gọi khác nhau. Trong hệ thống lụât pháp miền Nam Vịêt nam trước năm 75 cũng như tại Vịêt Nam hịên nay, có những danh xưng, hành xử, nhưng không có hệ thống ADR, về tư tưởng-lý thuyết-hành sự, tương đương với của Hoa Kỳ.

Rất nhiều người quan nịêm rằng chỉ có pháp đình, tòa án mới là nơi mang công lý lại cho mọi người, hoặc nói cách khác, pháp đình là nơi giải quyết mọi tranh chấp, kiện tụng, xung đột.

Vậy lời phát biểu của bà cựu chanh án tòa Tối Cao Pháp Vịên Hoa Kỳ trên đây có đủ khả năng thay đổi não trạng của chúng ta về quan nịêm tòa án, pháp đình như vừa trình bày chăng.

Alternative Dispute Resolution [ADR] được tạm dịch sang tiếng Vịêt một cách xuôi tai là Phương Án khác [để] Giải Quyết Tranh Chấp [xung đột, hoặc thưa kịên cũng vậy.]

Trong ADR lại có hai ngành khá khác nhau về phương án, lý thuyết lẫn cách hành xử:
1.    Arbitration
2.    Mediation

1.    Arbitration-Thường được nhiều người, kể cả lụât sư và hệ thống lụât tại Vịêt Nam gọi là Trọng Tài. Vì chúng ta không có một hệ thống lụât và ngữ thụât tương đương, thành ra hai chữ Trọng Tài bị hiểu lệch lạc và đánh giá không đứng chức năng của nó.
Nói chung, một thẩm phán của một tòa án của Hoa Kỳ, không cần có kiến thức chuyên môn, sở trường, đóng cương vị chủ tọa một phiên tòa có hồ sơ lưu [court of records] thì có quyền hạn xử liên quan đến mọi tranh chấp, có hoặc không có bồi thẩm đòan. Trong lãnh vực của Arbitration, trong những vụ tranh chấp lớn hay nhỏ, Vị Tài Phán-Arbitrator, thường là người có kiến thức chuyên môn về lãnh vực tranh chấp, không nhiều thì ít. Nếu không thì chính vị Arbitrator đó thường nhờ đến một vị chuyên môn để thâu tập kiến thức chuyên môn trước khi phán quyết. Nếu những bên tranh chấp đều đồng ý rằng phán quyết (award) của vị Tài Phán có giá trị pháp lý (binding,) thì không thể khiếu nại lên tòa phúc thẩm (appellate court,) ngọai trừ những trường hợp vi phạm hiếm có. Trong những tranh chấp lớn, thường thì có ba vị Tài Phán.

2.    Mediation-Thường được nhiều tự điển cũng như hịên nay tại Vịêt Nam gọi là Hòa Giải. Chính cách dịch, gọi Mediation là Hòa giải, đã gây ra rất nhiều ngộ nhận, hiểu lầm và rồi Mediation bị đánh giá một cách sai lầm.

Trong lãnh vực của bài viết nầy, người viết xin mời độc giả [chỉ] đi sâu vào lãnh vực của Mediation hòan tòan theo định nghĩa, cung cách hành xử và nhất là vị thế của Mediation trong hệ thống lụât pháp Hoa kỳ mà thôi.

Trung bình mỗi thẩm phán của Mỹ nhận, được phẩn bổ, khỏang một ngàn hồ sơ thưa kịên mỗi năm. Trên thực tế, ngài thẩm phán đó chỉ có mặt để chủ tọa các phiên xử trên dưới hai trăm ngày trong một năm. Ngòai ra, còn có các vị thẩm phán khác thay mặt chủ tọa những ngày còn lại. Nhiều vụ có thể xử trong nửa ngày hoặc một ngày. Có nhiều vụ kéo dài đến một hoặc hai tháng. Vậy khỏang bảy mươi đến tám mươi phần trăm các vụ không được thẩm phán xử sẽ đi đâu?

Theo lụât của tiểu bang California, mọi vụ kịên dân sự phải thông qua tiến trình Mediation trước đã. Nếu không giải quyết được, khi ấy mới đưa trở lại tòa để chờ ngày xử. Theo thống kê, hầu như các tiến trình của Mediation đã có thể giải quyết ít nhất là 70 đến 85 phần trăm những vụ kịên. Vậy tại sao không ai biết đến Mediation?  

Mỗi tiểu bang có một qui định về thời gian cũng như quá trình học vấn của chuyên gia Mediator khác nhau. Có rất nhiều lụât sư, tiến sĩ, chuyên gia về xã hội, tâm lý, thương mại v.v. học và hành nghề Mediation khắp nơi trên thế giới.

Tuy nhiên, không phải ai cũng có thể trở thành một chuyên gia Mediation một cách chuyên nghịêp (professionally) hoặc hữu hịêu (effectively.) Vì chưng, theo như một triết gia người Trung Hoa đã nói: “Nếu bạn muốn vẽ cây trúc, bạn phải ngắm cây trúc-cho đến khi bạn trở thành TRÚC-thì bạn mới có thể vẽ trúc được.”

Trong tư tưởng đó, một chuyên gia Mediation mà chỉ có một mảnh giấy treo trên vách, nhưng chưa khắc phục được chính mình, nghĩa là đạt được đến chức năng của một người làm công tác giải quyết những tranh chấp, thì khó mà giải quyết được những vịêc bất hòa.

Để được như vậy, người mang chức năng đi giải quyết những tranh chấp phải đắc thủ những yếu tố tối thiểu về Truyền Thông [communication,] văn hóa, ngôn ngữ, tâm lý và quan trọng hơn hết là có khả năng khai quật được những xung khắc tiềm ẩn bên trong cung cách, thái độ và hành vi của những người trong cụôc, liên quan đến viêc tranh chấp.

Làm thế nào để giữ được thế thăng bằng, trung dung, không thiên vị. Đây là một thử thách lớn nhất trong chức năng của một chuyên gia về Mediation. Vì là con người, mang bản tính tình cảm mỏng dòn, dễ bị những xúc động mạnh trước những tình huống vô cùng thương tâm, đau xót, bất công, hung bạo, làm cán cân bất thiên vị bị chênh lệch đi, lắm khi không do tính cố ý, hoặc thiếu chức năng nghề nghịêp.

Một yếu tố then chốt để mọi người đặt niềm tin vào phương án nầy là sự Tín Cẩn (Confidentiality.) Theo lụât Hoa kỳ, mọi người thưa chuỵên riêng hoặc xưng tội với các vị lãnh đạo tinh thần, như linh mục, mục sư, thầy chùa v.v. thì tuỵêt nhiên được bảo vệ kín mật. Không một tòa nào ỏ Hoa kỳ được phép trát đòi những vị linh hướng ấy ra tòa để khai báo những gì thưa gửi nêu trên. Trong những buổi Mediation cũng thế, không một vị Mediator, nhân chứng hoặc những người trong cuộc bị cướng ép ra tòa khai những gì đã trình bày, trao đổi trong tiến trình của Mediation.

Nhiều người vẫn chưa nắm vững được Mediation thường được áp dụng vào những tranh chấp, xung đột hoặc thưa kịên gì. Trong một vài trường hợp Mediation được sử dụng để giải quyết những vục liên quan đến tội phạm do các em vị thành niên gây ra, thuộc lãnh vực hình sự (criminal,) còn lại bất cứ những tranh tụng, xung đột hoặc thưa kịên gì về dân sự (civil) từ vịêc mất lòng nho nhỏ đến những vụ tranh chấp của cải vật chất, thưa kịên lớn, đều có thể sử dụng Mediation để giải quyết. Đặc bịêt nhất là trong lãnh vực lụât gia đình và những vấn đề liên quan đến tình cảm, tôn giáo, cộng đồng, sở làm, kẻ mua-người bán, thì Mediation là phương tịên hữu hịêu nhất.   Vì chưng, không ai là một ốc đảo và con người trong xã hội luôn cần nhau, còn nhìn mặt nhau, tương trợ lẫn nhau đẻ sống còn, để vươn lên, để hạnh phúc; chính vì thế, Mediation là một phương thế tốt đẹp nhất để đạt đến công lý. Công lý ở đây không phài là thắng-bại. Công lý ở đây cũng không phải là trịêt hạ đối thủ để còn lại một mình [ta,] nhưng là để còn biết mình vẫn là con người với bản chất mõng dòn, yếu đuối, luôn cần được thăng hoa, vươn lên theo tưổi đời, vương cao lên hướng về chân thịên mỹ.

Copyright©2006 by Bernard Dang Nguyen

Cập nhật ngày Chủ nhật, 14 Tháng 3 2010 13:09